|
Quỳnh Loan sưu tầm:
HUẾ CỦA
MỘT THỜI
(HUY PHƯƠNG)
Huế không bao giờ là của tương lai, nơi đó là
quá khứ, là những gì đã yên nghỉ, cùng với những
linh hồn oan khuất chưa siêu thoát.
Trong giọng nói, có một cái gì đó gọi là rất Huế,
đối với Quảng Nam-Ðà Nẵng, cách nhau một ngọn
đèo thì có khác, cũng là điều đương nhiên, nhưng
với Quảng Trị, cách mấy mươi cây số đường đồng
bằng, giọng Huế không lẫn vào đâu được. Dạ, dạ
thưa tiếng nói nhỏ nhẹ dịu dàng.
Vì phải sống trong một hoàn cảnh đặc biệt nên
phải kềm giữ sự yên tĩnh, nho nhã theo cung cách
quý tộc, quan liêu hay bình dân thôn giã cũng
phải nhu mì, gia giáo. Theo các nhà nghiên cứu
về thổ âm thì cho rằng, “Ở nơi nước trong thì
tiếng nhỏ, ở nơi nước đục thì tiếng tho.ạ” Ðiều
rất Huế trong giọng nói này, lâu hóa thành thói
quen, được xem là một phong thái lịch sự đặc
biệt không đâu có. Làm sao người ta quên được
cái tiếng dạ lạ kỳ của người con gái Huế, dạ để
khỏa lấp, dạ để từ chối, dạ để đồng ý hay dạ có
nghĩa là không gì hết. Làm sao anh chàng trong
Quảng ra thi có thể hiểu hay chịu đựng nổi một
lối trả lời vô thưởng vô phạt, nhưng nhỏ nhẹ,
không thể trách vào đâu của một người con gái
Huế mà anh ta muốn làm quen.
-Em tên chi? Dạ!
-Nhà em ở đâu? Dạ!
-Tôi có thể làm quen với em được không? Dạ!
Phải chăng ở nhà trước khi đi Mạ đã dặn không ăn
trầu người, đừng để người lân la, trước ngoài
sân sau lần vô bếp, tốt hơn hết là cứ dạ cho nhỏ
nhẹ, cho lễ phép, cho tới khi mô hết dạ nổi thì
thôi. E lệ, khép nép là những đặc tính của người
con gái Huế mỗi khi nàng gặp khách lạ như thi sĩ
Ðinh Hùng đã ghi lại, “Cô gái Huế đa tình, vành
nón nghiêng khép nép.”
Người con gái Huế gặp người lạ, tay thì níu vành
nón, sẵn sàng làm mạng che, tay thì quấn tà áo,
vừa phòng thủ, vừa tránh những làn gió vô duyên
quái ác. Cái thời áo trắng quần trắng đã làm cho
bao nhiêu chàng trai phải xốn xang rụng rời
trước cái mờ mờ ảo ảo, nửa che mà nửa không của
cái sương khói mờ nhân ảnh đó. Bạn cũng biết là
nữ sinh Huế không bao giờ mặc quần đen, cái màu
không tinh khiết, tội lỗi đó, có gì thì cũng
phải che đậy, ngụy trang cho tới cùng.
Tính cách Huế thường là che dấu hay tự chế những
cái phàm tục, bao gồm cả trong cách nói năng, ăn
mặc, ứng xử. Khách đến nhà, thì gia chủ hay con
cái trong nhà, phải quấn lại mái tóc, mặc vội
chiếc áo dài, mới dám bước giáp mặt khách, dù
thân hay sơ.
Tội nghiệp cho những người con gái Huế phải sinh
ra trong những hoàn cảnh bần hàn, với một hai
chiếc áo mà phải thay đổi luôn luôn, cứ bước ra
khỏi cổng nhà là phải lên áo dài, bất kể đi đâu.
Ngày nay phải chăng sự thanh lịch đó còn lại nơi
chiếc áo dài, dù là chiếc áo dài cũ, bạc màu, vá
víu của người con gái gánh một mớ bông thọ ra
chợ, hay nơi bà bán đậu hũ trên vĩa hè, dù chân
thì đi đất, miệng còn bập bập điếu thuốc Cẩm Lệ
sâu kèn.
Cái ăn, cái ngủ là cái rất riêng tư của người
Huế, nhiều khi phải giấu giếm đến mức sợ sệt,
chớ có đột nhập nhà người ta vào cái thời điểm
ấy. Cái nghèo muốn giấu đã đành, cái sang trọng,
người Huế cũng không muốn cho ai biết. Cũng có
khi cái nghèo mà nghèo kiểu cách, nghèo cái kiểu
mệ chém củ khoai, buổi sáng trên chiếc mâm đồng
chỉ có mấy chén cháo trắng thì gọi là “thời”
cháo hoa.
Cái ăn không còn là cái khoái trá có thể hả hê
trưng bày ra ngoài mà hình như phải giấu kín đi
mới gọi là người nho nhã. Cơm đường, cháo chợ,
cách đây vài mươi năm, trong xã hội Huế còn được
xem là thứ tầm thường, hèn hạ. Bạn có biết là
ngồi quán cà phê cụ Phấn là một sự cách mạng lớn
trong xã hội Huế vào những thập niên năm mươi
không? Ðến như khi cái xe nước mía từ Saigon du
nhập ra Huế quả là đã thay đổi nhiều lắm. Ngay
cả vào những năm 1950, Huế cũng chưa bao giờ có
cái cảnh ăn đứng góc đường như chúng ta thường
thấy ở khu Pasteur-Lê Lợi Saigon.
Dân Huế ngày xưa thời phong kiến là vua chúa,
quan lại, viên chức triều đình, binh lính và thư
sinh, một thời sau đó là quân nhân, công chức và
học sinh, sinh viên, không thấy có mấy ngành
nghề công nghệ hay thương mãi, con buôn hình như
không được trọng vọng mấy trong xã hội nho nhỏ
này, cái lối xếp hạng sĩ nông công thương. Các
ngành tiểu công nghiệp như chằm nón, đóng khăn,
đóng giày, dệt lụa có khi được tuyển chọn từ các
địa phương trong cả nước về kinh đô để phục vụ
cho giới vua quan, sau đó ra cả cho thứ dân,
nhưng không thấy có cơ hội phát triển ra rộng
lớn.
Một nơi không có kỹ nghệ, không có nhà máy,
không vận dụng nhiều đến cơ khí, thì cũng là một
nơi yên tĩnh, nhịp sống lặng lẽ, chậm chạp.
Thành phố mang một vẻ cổ kính hiền hòa, và không
khỏi đượm một vẻ nghèo khó. Cũng như những thành
phố cổ xưa, nhỏ bé khác, Huế như trong một chòm
xóm nhỏ mà người dân hầu hết đều biết nhau, và
vì sự giao thông hạn chế, chỉ có một chiều ngang
theo quốc lộ, một mặt thì ngăn bởi biển, một mặt
thì chặn bởi núi, ở đó thành kiến còn nặng nề,
cố chấp, ít chấp nhận được cái mới lạ, tân thời.
Khoảng năm 1948-49, khi mệ Sen (con vua Thành
Thái), một người đàn bà Huế, lần đầu tiên dám
lái một chiếc xe hơi Simca Aronde, thì cả thành
phố coi đó là một hiện tượng dị thường.
Ðến với Huế, người ta như đi trở ngược lại dòng
thời gian, ở đây, quá khứ bao trùm lên tất cả. Ở
đâu cũng thấy những dấu vết nhắc ta nhớ tới
những ngày tháng đã qua. Cung đình, bia mộ, lăng
miếu thời Thăng Long hiện hữu trong gần tám thế
kỷ, nhưng đã cách xa ta chừng hai thế kỷ, một
phần đã mai một theo thời gian. Kinh đô Thuận
Hóa thì vẫn còn đây với những di tích, đền đài,
lăng tẩm, với những ngàn thông reo, với những bờ
tre xanh mướt bên dòng sông Hương lặng lẽ. Những
người đã khuất mà hình như linh hồn còn ở đâu
đây, phảng phất bóng tinh kỳ hay tiếng trống
chiêng, bát nhã, sênh phách cầm ca. Nơi đây,
những dấu ấn của lịch sử còn ẩn hiện trên mỗi bờ
thành, góc phố, nơi tấm bia mộ hay trên những
lăng tẩm. Nơi đây là dĩ vãng, là tháng ngày qua,
người ta về đây là để hồi tưởng, để nhớ nhung. Ở
đâu cũng đượm một vẻ buồn, mà người ra đi thường
ray rứt muốn có một ngày trở lại. Quê hương là
cái gì mà người ta nặng lòng với nó như thế tôi
thấy ở đây sao buồn quá! (Ðinh Anh Dũng trong
Nhớ Huế).
Quá khứ của Huế được ghi nhận nhiều nhất qua
những công trình lăng tẩm mà các vua nhà Nguyễn
trước khi băng hà đã chọn cho mình một nơi yên
nghỉ kiểu cách và xứng đáng của một bậc đế vương,
từ địa thế, khung cảnh tĩnh mịch đến các kiến
trúc lộng lẫy. Nơi nào cũng là núi rừng bao la,
có đại thụ, có hồ sen cùng với tiếng chim, tiếng
suối, tiếng thông reo đem lại cái cảm giác dịu
dàng thơ mộng và yên tĩnh cho tâm hồn con người.
Huế không những là vùng đất của quá khứ, mà Huế
còn như bao phủ bởi những linh hồn quá vãng, là
của hương trầm, là của chuông mõ luôn luôn nhắc
nhở tới sự hiện diện của những linh hồn oan
khuất. Ðó là những linh hồn chưa siêu thoát
trong một bề dày của Huế tang tóc, chết chóc,
tức tưởi, của những ngày thất thủ kinh đô, khi
giặc Pháp tấn công Huế năm 1885, lúc voi ngựa
cùng người dày xéo lên nhau thoát ra bốn cổng
thành, của giặc giã thanh toán hận thù nhau qua
thời đại tứ nguyệt tam vương của Tường-Thuyết,
của hàng ngàn cái chết oan khuất giữa ngày Tết
Mậu Thân mà máu xương rải rác từ đồng bằng Phú
Thứ cho đến khe sâu Ðá Mài, của thây chất thây
trên bờ biển Thuận An dưới cơn mưa pháo 75, của
hàng trăm thân xác cuốn theo dòng nước lũ của
mùa Thu năm Kỷ Mão. Có chỗ nào âm u, sầu thảm
hơn Huế với những địa danh Ngã Tư Âm Hồn, Miễu
Âm Hồn, cồn chém An Hòa, Mả Ông Trạng hay cả đến
cái quán cơm có cái tên ma quái không đâu có là
quán cơm Âm Phủ.
Ban đêm, Huế có chỗ nào là không có lập lòe nén
hương, xuýt xoa khấn vái, cầu nguyện. Sau tang
tóc Mậu Thân, hãy về Huế mà nghe, nửa đêm về
sáng, láng giềng, hàng xóm vang dậy chuông mõ và
tiếng tụng kinh cầu nguyện cho những người đã
mất sớm được siêu thăng. Huế là nơi đã trải qua
nhiều biến cố đau thương, Huế đã than khóc với
những tang tóc và oan khuất sẽ không bao giờ
phai lạt. Nơi mỗi khu vườn của Huế đều có mỗi am
thờ cho những người khuất mặt, với hoa quả, một
cành hoa phượng và một ngọn đèo leo lét. Linh
hồn những người khuất mặt hình như vẫn còn lẩn
khuất đâu đây.
Ngày xưa mỗi năm vào ngày hai mươi ba Tháng Tư
Âm lịch, để ghi nhớ ngày thất thủ kinh đô trong
lịch sử, khắp nơi, nhất là ở vùng chợ Ðông Ba,
người ta đã dựng trai đàn, chẩn tế suốt một tuần
lễ theo nghi thức Phật Giáo để cầu siêu cho
những linh hồn oan khuất chưa siêu thoát. Cũng
như ngày lễ Vu Lan ở Huế có phần trọng đại hơn
với những nghi lễ cúng cô hồn các đảng thập
phương, phóng sanh, phóng đăng để hồi hướng công
đức cho tất cả những người đã mất. Huế không bao
giờ là của tương lai, nơi đó là quá khứ, là
những gì đã yên nghỉ, cùng với những linh hồn
oan khuất chưa siêu thoát.
Nói đến Huế, chúng ta liên tưởng đến những cảnh
chùa chiền. Không đâu trên đất nước, trong một
vùng đất nhỏ hẹp mươi chục cây số vuông, mà có
tới trên một trăm cảnh chùa. Ðược cơ duyên như
vậy là do từ gần bốn trăm năm trước. Thái Tổ Gia
Dụ Hoàng Ðế, tên húy Nguyễn Hoàng trong khi vào
Nam tìm Hoành Sơn nhất đái để dung thân, đã hạnh
ngộ với một bà tiên (hay bụt) trong giấc mơ,
chọn đất Hà Khê (Kim Long) để dựng chùa Thiên Mụ.
Cho tới những đời vua sau, chùa chẳng những được
trùng tu và xây dựng thêm (tháp Phước Duyên xây
năm 1844 dưới thời vua Thiệu Trị) mà khắp đất
thần kinh, chùa chiền được xây dựng thêm rất
nhiều, khiến bây giờ Huế có những cảnh chùa rất
đẹp, xét về mặt nguy nga tráng lệ, không thể so
với lăng tẩm, nhưng không thiếu khung cảnh u
tịch, nên thơ. Báo Quốc, Từ Ðàm, Diệu Ðế, Thuyền
Tôn, Tường Vân và nhất là Linh Mụ, là những ngôi
chùa đã ghi nhiều kỷ niệm trong lòng dân đất
Thuận Hóa, Phú Xuân. Và trong tuổi ấu thơ của
mỗi người Huế, ai không ghi dấu lại kỷ niệm của
một ngày lên chùa?
Nhớ Huế làm sao khỏi nhớ đến những khu vườn.
Vườn là khoảng không gian của thời thơ ấu của
mỗi chúng ta, là bóng mát thời trẻ dại, là những
nỗi hẹn hò, là những thứ trái cây ngọt ngào hay
chua chát mà vẫn mang đầy hương vị của thời mới
lớn. Những cây mít, những hàng ổi, những gốc
thơm, những chùm khế. Nào nhãn lồng, nào vải
trạng, nào là dâu. Có khi là bồ quân, có khi là
lựu, có khi là đào. Tuổi ấu thơ và nhất là thời
mới lớn, tuổi dậy thì, lòng ai không khỏi ngát
hương hoa, trong một khu vườn tĩnh mịch nào đó,
với nỗi lòng rung động thuở ban đầu còn trong
suốt và đơn giản như những giọt sương mai.
Vườn của những vương phủ với giả sơn, hồ sen,
thủy tạ, với những bức bình phong, tường ngăn
trang trí bởi những mảnh sứ vỡ làm thành hình
Long Lân Quy Phụng hay Mai Lan Cúc Trúc.
Những khu vườn đó đây ở Vĩ Dạ, ở Kim Long, ở Gia
Hội, ở Ngự Viên, ở An Cựu là những khu vườn đã
mang bao nhiêu lời thơ ý nhạc, mang bao nhiêu
tình yêu thuở thiếu thời, là nơi của hẹn hò,
mong đợi, thương nhớ
Có phải ngày xưa vườn Ngự Uyển
Là đây hoa cỏ giống vườn tiên
Gót sen nhẹ bước lầu Tôn Nữ
Ngựa bạch buông chùng áo Trạng Nguyên
(Nguyễn Bính)
Vườn Huế ngày Hè còn rộn tiến ve, nhắc nhở tới
mùa thi cũng là mùa chia cách. Giữa những buổi
trưa yên lặng mùa Hè, một tiếng ve cất lên khởi
đầu, rồi muôn ngàn tiếng ve vùng lên phụ họa,
tạo nên một khúc hòa tấu, âm thanh lan ra từng
vùng rộng lớn. Cùng với hoa phượng nở trên những
con đường xứ Huế, tiếng ve đã mang mùa Hè đến
bao nhiêu lần trong quãng đời học trò, ghi lại
bao nhiêu mối tình, bao nhiêu sum họp và chia ly.
Nhà ở Huế thường làm sâu vào giữa vườn, từ cổng
vào nhà có khi phải qua một hàng rào bông cẩn (dâm
bụt) hay chè tàu, thỉnh thoảng rắc bởi những sợi
dây tơ hồng màu vàng rực. Cậu học trò mới lớn,
còn rụt rè, nhút nhát muốn làm quen với cô bé
trong nhà làm sao có đủ cam đảm để vượt qua cái
con ngỏ dài hun hút đó, hay những đêm trăng,
đành thơ thẩn qua lại nơi ngỏ ấy mà ôm mối tình
si. Hương trong vườn Huế, có khi là hương bưởi,
có khi là hương dạ lý, có khi là hương sói,
hương lài, hương mộc lan, cũng có khi là hương
sầu đông thơm ngát một khung trời thời trẻ dại.
Và đêm vườn Huế làm sao có thể thiếu trăng.
Trăng lặng lẽ soi những bóng cây trong vườn,
trăng lên trên đọt cau, trăng ướt trên ngọn dừa.
Và trăng trên sông Hương, trăng trên màu sáng
bạc của cầu Trường Tiền, trăng trên mái thuyền,
trăng vỡ dưới mái cheo và ánh trăng rung động
theo âm thanh của những tiếng hò đêm trên sông.
Huế với những dòng sông chảy ngang dọc tạo cho
Huế một vẻ đẹp tươi mát dịu dàng. Huế có con
sông Hương lượn lờ qua Lăng Gia Long, Minh Mạng,
qua Ðiện Hòn Chén, qua Văn Thánh, Linh Mụ, Kim
Long, về Vỹ Dạ, Cồn Hến, Tây Thượng trước khi
tới Thuận An. Huế có con sông đào xinh xắn từ
cầu ngói Thanh Toàn, qua An Cựu về Bạch Hổ nắng
đục mưa trong, với con sông từ Gia Hội, ngang
qua chùa Diệu Ðế qua Ðông Ba tạo nên cái cảnh
“Ðông Ba, Gia Hội hai cầu, ngó vô Diệu Ðế bốn
lầu hai chuông,” với con sông đào từ cầu Bạch Hổ,
qua Phú Xuân, tới An Hòa. Tất cả dòng sông đó đã
ôm ấp Huế, chảy qua những khu nhà vườn, những
bậc tam cấp của những khu vườn ven sông, mang
những tiếng cười trong trẻo của ai ngày đó vang
qua tới bờ sông bên kia. Với những dòng sông như
thế, Huế có những con thuyền bềnh bồng trên bến
nước, những ngọn đèn hiu hắt bên sông và cả
những câu hò vang vọng, mang mang theo sóng nước
đi rất xa, và cả với những mối tình chia cắt của
ngày nào khi mà “thuyền về Ðại Lược, duyên ngược
Kim Long.”
Nhưng cùng theo với những dòng sông đó, mỗi năm
cơn bão lụt đã gieo tai họa thảm khốc xuống Huế.
Nghèo đói, tai ương hầu như triền miên trên mảnh
đất miền Trung cằn cỗi, nhưng Huế chính là tâm
điểm của hiểm họa thiên tai. Có nơi nào chịu
nhiều nỗi bất hạnh, thống khổ như Huế. Những xác
người trôi ra biển cùng với những mái tranh
nghèo theo những cơn nước lũ, cơn đói đổ ập lên
cả một vùng đất cằn cỗi trong nhiều ngày tháng.
Có nơi nào chịu những cảnh chết chất chồng dày
xéo, có nơi nào chịu cảnh chết thảm khốc trong
những mồ tập thể như Huế. Phải chăng Huế chịu
căn nghiệp của cha ông đã thôn tính, tàn sát,
đồng hóa cả một Chiêm Quốc trong một thời Nam
tiến.
Huế như một người con gái tài hoa mà bất hạnh.
Huế là “nơi đi để mà nhớ, không phải ở để mà
thương.” Người xa Huế như xa một mối tình không
trọn vẹn, nhưng xa rồi, thương nhớ xót xa biết
bao nhiêu. Huế là nỗi ám ảnh không rời, Huế là
nơi gợi cho chúng ta những giấc mơ xưa không bao
giờ thành, là nơi chúng ta thường mong ngày trở
lại nhưng không bao giờ đúng hẹn. Chúng ta khó
tìm lại những gì của Huế trong thời thơ ấu của
chúng ta, như không thể “tắm hai lần trong một
dòng sông,” như không thể tìm lại mùi vị của một
món ăn ngày trước, hương thơm dịu dàng của một
đêm trăng sáng trong vườn xưa, và một mối tình
xa xôi đã mờ nhạt.
Huy Phương
|