|
|

|
|

Hệ
đầm phá Tam Giang-Cầu Hai, trên
đường từ Hội An đến Huế -
Photo : Wiki
MỘT HUYỀN
THOẠI VỀ
PHÁ TAM GIANG
BS Hồ Đắc Duy
Trích Khoa Học
Theo Ðại Nam Nhất Thống Chí (ÐNNTC)
trang 153 chép Phá Tam Giang trước
có tên là Hạt Hải có nghĩa là biển
cạn, từ nam chí bắc dài 30 dặm, từ
đông sang tây rộng chừng 6 dặm. Từ
hạ lưu nguồn Ô Lâu - Thọ Lai (hệ
thống sông Lương Ðiền) chảy xuống
Phá về phía tây nam có 3 cửa sông đổ
vào là sông Tả, sông Trung và sông
Hữu nên vua Minh Mạng đổi tên gọi là
Tam Giang, nước sông sâu rộng, sóng
gió bất trắc, thuyền bè dễ gặp nạn
Trong ca dao xưa ở Thừa Thiên – Huế
có câu:
Thương anh, em cũng muốn vô
Sợ truông nhà Hồ, sợ phá Tam giang
Trong qua khứ, một số lý giải về ấn
tượng “Sợ phá Tam giang” vì cho rằng
“nước sông sâu rộng, sóng gió bất
trắc, thuyền bè dễ gặp nạn” và đưa
vào một số dẫn chứng về bài ca “ Cửa
biển Tư Hiền “ với 3 ngọn sóng thần
thường đánh đắm thuyền bè. Truyện kể
Thái Tông hoàng đế từng đến đây chơi,
trông thấy sóng yêu làm hại thuyền,
nổi giận sai đem đại bác ra bắn,
trúng được 2 ngọn sóng máu phun ra
đỏ cả dòng nước, còn một sóng chạy
ra biển cả trốn mất; từ đấy thuyền
bè đi lại không lo gì nữa, đến nay
người ta còn ca tụng (ÐNNTC trang
147)
Phá Tam giang thuộc huyện Quảng Ðiền.
Quảng Ðiền là một địa danh có từ
cách đây hơn 200 năm, nguyên là đất
quận Nhật Nam thời thuộc Hán, sau là
châu Lý của Chiêm Thành; thời nhà
Trần là quận Trà Kệ thuộc châu Hóa;
thời nhà Lê đổi thành huyện Ðan Ðiền
thuộc phủ Triệu Phong.
Trong Ô Châu Cận Lục của Dương văn
An viết vào đầu nửa thế kỷ XVI
(1555) dưới thời Lê – Mạc thì vùng
Quảng Ðiền - Phong Ðiền hiện nay nằm
trong địa phận 2 huyện Kim Trà và
huyện Ðan Ðiền thuộc phủ Triệu Phong.
Dưới thời nhà Nguyễn đổi Ðan Ðiền
thành Quảng Ðiền (Ðại Nam Nhất Thống
Chí trang 96). Hiện nay huyện Quảng
Ðiền thuộc tỉnh Thừa Thiên, địa danh
Ðan Ðiền xưa được mang ra đặt tên
cho một cây cầu hiện nay ở thị trấn
Sịa.
Vùng đất Quảng Ðiền – Phong Ðiền là
quê hương của nhiều nhân vật lừng
danh trong lịch sử Việt Nam từ cổ
tích cho đến nhân vật liệt nữ tăng
đạo. Ða số thuộc vào thời các chúa
Nguyễn như
Ông Nguyễn quang Tiền
Ông Nguyễn văn Hiền giữ chức Quản
tiên phong thủy đạo,
Ông Nguyễn văn Thành tổng trấn bắc
thành thời Gia Long,
Nguyễn Ðô, Nguyễn đình Ðức được thờ
ở miếu Trung Hưng Công Thần , thượng
thư Lương tiến Tường, Ðoàn văn phú,
Ðặng văn Thêm, Lê văn Phú đều được
thờ ở đền Hiền Lương, Lê phúc Sơn
thờ ở đền Trung nghĩa; đặc biệt ông
Thân văn Quyền được vua Minh Mệnh
phái đi Pháp về sau giữ chức Bố
chính tỉnh Ðịnh Tường cũng được thờ
ở đó.
Gương liệt nữ có bà Nguyễn thị Xuân…thủ
tiết thờ chồng.
Các di tích lịch sử của Quảng Ðiền
gắn liền với các hoạt động lễ hội
như đình Thủ Lễ gắn với hội vật, các
điệu hò như mái nhì, hò ô, hò giã
gạo được ưa chuộng trong dân gian;
các trò chơi chọi gà, đua thuyền,
kéo co, vật võ, bài chòi thường được
tổ chức trong các dịp lễ, tết …
Văn hóa ẩm thực đặc biệt như: bánh
tráng, tôm chua chợ Sịa, bún bò,
cháo cá dìa, trìa phá Tam giang và
các món ăn đặc sản chế biến từ cá
tôm vùng nước lợ thì không có nơi
nào phong phú hơn ở vùng đầm phá Tam
giang, ngay cả chim nước như le le,
vịt nước hay các loài lưỡng thê cũng
vậy.
Khí hậu ở Quảng Ðiền Tam Giang được
phân thành hai mùa rõ rệt: Mùa khô
từ tháng 3 đến tháng 8, chịu ảnh
hưởng gió Tây Nam nên không khí khô
nóng, oi bức. Mùa mưa từ tháng 9 năm
trước đến tháng giêng năm sau. Tháng
9-10 thường kéo theo lũ lụt. Tháng
11 mưa kéo dài. Các tháng 7,8,9,10
thường hay có bão.
Vùng đất mang nét đặc thù chung của
nền văn hoá Huế, và cũng là nơi có
nền văn hoá Chăm Pa, những di tích
mang dấu ấn của một thời lịch sử như
Thành Hoá Châu, Phủ Phước Yên, Phủ
Bác Vọng. Những người con của Quảng
Ðiền đã đi vào những trang sử hào
hùng của quê hương đất nước như Ðặng
Tất, Ðặng Dung, các nhà chí sĩ như
Trần Thúc Nhẫn…
Phá Tam Giang giới hạn phía Bắc là
cửa sông Ô Lâu, phía Nam là cửa sông
Hương thông với biển qua cửa Thuận
An. Từ Ô Lâu tới Thuận An dài 26 km,
chiều rộng phá từ 2 - 3,5km. Thuộc
địa phận 12 xã của ba huyện Quảng
Ðiền, Phong Ðiền và Hương Trà. Phá
Tam Giang có diện tích khoảng
5.200ha. Phá Tam giang có độ sâu từ
2 đến 7m, sâu nhất là 10m; phía Bắc
phá là Quảng Thái, một vùng phù sa
nhờ 2 con sông Ô Lâu và Nịu mang lại
sau những mùa lụt, phá Tam Giang từ
đây vẽ một vòng cung ra hướng Bắc.
Đông Bắc thì gặp một vùng đất đầm
thuộc Phong Chương, Ðiền Lộc, Ðiền
Môn…Tên các làng dọc theo vùng đất
này nghe rất lạ tai như Thủy Nịu,
Trằm Nầy, Trằm Dét …
Ngoài đường bộ thì đường thuỷ là một
loại giao thông chính của vùng này,
con sông Bồ là thủy lộ chính. Sông
Bồ bắt nguồn từ dãy núi Sơn Hồ chảy
theo tuyến Phú Ốc đến Phú Lễ; chia
ra một nhánh chảy về phía Tây Nam -
gồm các xã: Hương Xuân, Hương Toàn (Huyện
Hương Trà), Quảng Thọ, Quảng Thành (Huyện
Quảng Ðiền) đi ra sông Sình và về
biển Ðông; một nhánh khác chảy quanh
ra phía Bắc đến các làng Cổ Tháp,
Sơn Tùng, chảy qua Nam Dương hợp với
sông Nam Phù ( ) chảy vòng lại phía
Ðông Bắc đến thôn An Xuân rồi đổ ra
phá Tam Giang.
Thủy lộ chính từ phía bắc hay từ
thượng lưu đi ra biển hay xuôi vào
nam là con sông cái. Một trong số 3
con sông này, khi đến Vân Trình có
sông Vĩnh Ðịnh từ phía bắc Hải Lãng
– Quảng Trị hợp vào, khi sắp đến cửa
sông thì giòng sông chảy ngang qua
xứ Bàu Ngược chảy thêm 7 dặm nữa mới
đổ vào phá Tam Giang (ÐNNTC trang
147).
Tương truyền chỗ Bàu Ngược sông rộng
nước sâu, mùa thu mùa đông thường
nhiều sóng gió bão, thuyền đi đến
đây gặp gió ngược thường bị đắm.
Thật sự bàu nước ở đoạn sông, theo
như nhận định về khoa học hiện đại,
có thể giải thích như là Bàu Ngược
này có một cấu trúc khá đặc biệt về
địa chất làm giòng nước chảy ngược
về thượng lưu, tạo ra một giòng xoáy
mạnh có thể nhận chìm thuyền bè đi
ngang qua nó, trường hợp này cũng đã
xảy ra trên thế giới như ở
California - Hoa Kỳ hay ở phía đông
thành phố Lehan - Trung Quốc. Thường
thì giòng xoáy này xảy ra không định
kỳ, không có dấu hiệu báo trước nên
người ta rất khó biết hay tiên liệu
khi nào xảy ra; cư dân địa phương
gọi là Bàu Ngược. Khi nội tán kiêm
án sát sứ tổng tri quân quốc trọng
sự Nguyễn khoa Ðãng cho đào một con
kênh khác thông với sông chính làm
giảm bớt lưu lượng nước đổ vào bàu
này, từ đó giòng xoáy và sóng cũng
bớt dần, thuyền bè đi lại thuận tiện.
Còn ở Trung Quốc, người ta đã xây
một tượng Phật vĩ đại cao 71 mét
trên một ngọn núi đá nằm trên bờ
sông ngay khúc sông thường hay xảy
ra tai nạn vào năm 713, và sau khi
tượng Phật khánh thành thì không còn
các tai ương xãy ra nữa. Mãi về sau
này, gần đây các nhà nghiên cứu và
tôn giáo mới đưa ra một giải thích
có tính khoa học thuyết phục hiện
tượng bí ẩn này là: khi thi công
tượng Phật trên ngọn núi đá thì hàng
ngàn hàng vạn mét khối đất đá từ
trên cao đã rơi xuống sông và lấp
kín các hố sâu dưới lòng sông mà
chính các vùng trũng, các hố sâu này
là nguyên nhân tạo ra giòng xoáy.
Như thế, ở Trung quốc hay ở Bàu
Ngược – Tam Giang – Quảng Ðiền, các
bậc cao nhân đã nghĩ ra phương pháp
triệt tiêu nguyên nhân tạo ra giòng
xoáy.
Và câu ca dao xưa đã có đoạn kết:
Phá Tam giang thì nay đã cạn
Truông nhà Hồ, Nội tán dẹp yên.
Và đến đầu thế kỷ 21, Bàu Ngược đã
được phù sa bồi lắng tạo thành một
bãi bồi. Hiện nay cư dân địa phương
gọi trại đi là Bàu Nhà Nước hay Bãi
Bồi. Di tích mũi tàu và cột cờ vẫn
còn đó như một chứng tích của một
huyền thoại về phá Tam giang, nó chỉ
nằm cách 1Km sau lưng chợ Sịa (mới)
HỒ ÐẮC DUY
|
|
|
Hoi Nho Hue Montreal
|
Chân
thành cảm
tạ
Mạnh Thường Quân
và Thân Hữu
|
|
• |
Ô Đoàn Đình Thủy |
|
Cựu Chủ Tịch Ban Giám Sát
CDNVQG/MTL & Cố vấn HNHuế Montréal |
|
|
|
• |
Ô Nguyễn Trung Châu
(NY) |
|
|
|
• |
Ô Lê Văn Đáp
(Hội Trưởng Hội Nhớ Huế Đông Bắc Hoa Kỳ) |
|
|
 |
|
• |
ÔB Đỗ Giang |
 |
|
|
|
• |
Chị Diệu Trang |
|
|
|
• |
Anh Dũng |
|
|
|
• |
ÔB Đặng Tấn Nghi |
|
|
|
• |
BS Lý Hồng Sen |
|
|
|
• |
BS Tôn Nữ San |
|
|
|
• |
ÔB Vũ Văn Thái |
|
|
|
• |
ÔB Lâm Xuân Quang |
|
|
|
• |
ÔB Đoàn Đình Thủy |
|
|
|
• |
Bà DS Phạm Thị
Huyền |
|
|
|
• |
ÔB Nguyễn Xuân
Lượng |
|
|
|
• |
Anh Trần Đình Na |
|
|
|
• |
Anh Lê Ngọc Diệp |
|
|
|
• |
ÔB Đào Bá Ngọc |
 |
 |
 |
 |
|
|