|

1.
Tiếng hát của Duy Trác tha thiết:
Nắng Sài Gòn em đi mà chợt mát
Bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông
Anh vẫn yêu mầu aó ấy vô cùng
Anh vẫn yêu mầu aó ấy vô cùng….
Bản nhạc “Aó lụa Hà Đông” của
nhạc sĩ Ngô Thụy Miên phổ từ thơ
Nguyên Sa, thơ và nhạc đã khiến
người nghe không khỏi bâng
khuâng, quyến luyến một hình ảnh
quyến rũ và duyên dáng của giai
nhân trong chiếc aó lụa Hà Đông,
một địa danh nổi tiếng về ngành
dệt lụa. Chắc chắn chiếc aó mà
Nguyên Sa mô tả đây phải là
chiếc aó dài, chứ không thể là
áo cánh hay aó bà ba đuợc. Vẫn
biết y phục của phụ nữ Việt Nam có ba bốn
loại aó. Aó bà ba mà người miền
Nam thường mặc ở trong nhà hay
đi chợ, giống như cái aó cánh
của phụ nữ miền Bắc và miền
Trung vậy. Thế nhưng, tất cả ba
miền, khi người phụ nữ đi dự lễ,
đình đám, tiệc tùng… thì hầu như
các bà, các cô đều mặc aó dài cả.
Chiếc aó dài Việt Nam đã đuợc ca
tụng qua bao nhiêu triều đại và
quả đúng như vậy, vì chiếc áo
dài khi đuợc mặc trên mình người
thiếu nữ, đã duyên dáng xinh đẹp
ra sao, nên mới đánh động đuợc
các thi, hoạ,văn nhân tốn bao
nhiều sơn, mực, phấn, giấy, vải,
để lưu lại hình ảnh giai nhân
với chiếc áo dài tha thướt đó.
Các thi nhân thì ngẩn ngơ khi
ngắm một tà aó bay bay trong
chiều thu sang,
Áo nàng vàng, anh về yêu hoa cúc,
Áo nàng xanh, anh mến lá sân
trường.
Sợ thư tình không đủ nghĩa yêu
thương,
Anh thay mực cho vừa mầu aó tím.
( Nguyên Sa)
Vâng, mầu aó nàng đã khiến những
anh sinh viên ngơ ngẩn mỗi chìều
bên cổng trường ngóng đợi một tà
aó thân quen… .
Những tà aó trắng như những
cánh buớm của nữõ các sinh đang
tuổi xuân thì đã khiến bao con
tim các nam sinh rung động.
Sân trường bầy gái trẻ
Đùa nắng má hây hây
Gió vô tình thổi nhẹ
Tà áo trắng tung bay…
(
Trần văn Lương)
Và còn nhiều nữa, như:
Sàigòn bây giờ trời mưa hay nắng?
Tà aó em bay theo giọt nắng vàng.
Con đường ta đi giòng sông kỷ
niệm,
Nỗi nhớ trong em nỗi nhớ dịu
dàng.
( Trần Ngoc)
ngoài cửa lớp
Là áo người trắng cả giấc ngủ mê
Là bài thơ còn hoài trong cặp
Giữa giờ chơi mang đến lại mang
về.
( Đỗ trung Quân)
Em về mặc cánh hoa rơi
Áo em tím suốt một trời bằng
lăng.
( Bình Nguyên Trang)
Áo dài thường may
bằng những hàng lụa mỏng, mầu
sắc nhẹ nhàng. Chiều dài của aó
cách gấu quần khoảng 30 phân, có
khi ít hơn. Áo dài có cổ, giống
như cổ aó tàu, cổ áo cao chừng
hai, ba centimet. Thân trên của
aó dài may sát với thân hình
ngườøi phụ nữ, kín từ cổ đến
cánh tay, nhưng vẫn phô trương
đuợc nhưng nét mỹ miều của thân
thể, vàø vẫn là kín đáo đoan
trang. Từ vòng eo trở xuống thân
aó gồm hai vạt aó, vạt trước và
vạt sau. Bên trong, người phụ nữ
mặc quần dài, may thuôn theo hai
ống chân, những cô gái có đôi
chân dài, mặc quần bằng tơ, hay
lụa óng, khi buớc đi, dáng uyển
chuyển, và hai tà aó đuợc tự do
bay bay theo gió thổi, đã khiến
một ký giả người Mỹõ, bạn của
anh tôi, lần đầu đến Việt nam
vào thập niên 60 khi nhìn các nữ
sinh trung học lúc tan truờng,
đã phải kêu lên là đẹp quá và đã
ví những tà aó trắng đó không
khác gì một đàn bướm bay lượn
trên con đuờng Cường Để ngập lá
vàng.
2.
Chiếc áo dài đã đuợc biến dạng
ra sao từ những năm xa xưa?
Khoảng thời điểm của năm 1910
tới 1950, chiếc aó dài đuợc may
hơi rộng rộng, không bó sát thân
hình, vì người phụ nữ phải mặc
chiếc aó cánh ngắn tay bên trong,
thông thường là aó “phin” hàng
cotton, mỏng, sợi tơ vải rất
thanh, và nhẹ, gọi là aó “phin
nõn”. Chiếc aó ngắn đó có túi
nhỏ bên hai vạt aó. Hàng aó dài
thường là luạ, vải, còn gấm và
tơ dành cho những người giàu có.
Người nghèo thì may aó dài bằng
vải.


Về mầu sắc của aó dài, thì vào
thời điểm đó, phụ nữ còn nhiều
nhút nhát e dè. Không dám làm
cách mạng trong vấn đề y phục,
nên họ thường mặc những mầu
nhạt, nhẹ nhàng, mà không dám
mặc những mầu sặc sỡ, trông chói
lọi vì sợ cho là không đứng đắn.
Cái nền nếp, sự bảo thủ của lớp
người cổ xưa đã khiến người phụ
nữ thuở đó phải ngại ngần trong
sự chọn mầu sắc của áo. Chỉ
những ả đầu hay đào hát mới dám
dùng mầu sặc sỡ cho y phục. Còn
các tiểu thư, các bà mệnh phụ đa
số là mặc những mầu hồng nhạt,
mầu lòng tôm, mầu mỡ gà. Những
mầu rực rỡ chỉ đuợc họ mặc trong
dịp lễ lớn như đám cuới, đám
rước hội. Hầu như người ta không
thấy người phụ nữ bình thường ở
lớp tuổi 30 lại mặc mầu đỏ khi
đi phố.

Mầu trắng, đen, xám, và nâu là
dành cho những phụ nữ tuổi ngoài
40. Vào thập niên đó khó mà kiếm
đuợc một cô gái đương thì, tuổi
xuân mộng lại chọn mầu xám buồn
để mặc. Mầu trắng, quần trắng là
thuờng dành cho học sinh trung
học, Ngoài ra, mầu trắng, mầu
đen, cũng thường dùng cho những
truờng hợp tang chế.
Cổ áo dài thường may giống như
cổ aó Tầu. Phụ nữ ở vào tuổi
trung niên thì cổ aó may hở một
khúc nhỏ phía truớc khoảng bằng
nửa gang tay để phô trương những
dây hột vàng 24k đuợc đánh như
dây chuyền, gồm các hột vàng nhỏ
bằng 1/3 hột đậu xanh, kết lại
thành một chuỗi dài và quấn
nhiều vòng quanh cổ, nhưng họ
chỉ khoe phần nữ trang đó ỡ chỗ
cổ phiá truớc. Phần còn lại đuợc
đeo dấu bên trong aó. Họ không
đeo nguyên xâu chuỗi ra ngoài cổ
aó.
3.
Khuy aó cũng đóng một vai trò
quan trọng và biến dạng dần theo
mốt của áo. Khuy áo cũng đuợc
đổi thay theo mốt của áo. Khuy
aó thường đuợc làm bằng những
hạt thuỷ tinh trong, tròn như
hòn bi và to hơn hạt ngô, đủ mầu
theo aó. Nhưng thường là mầu hổ
phách, hay mầu xanh ngọc, như
mầu qủa nho, hoặc hạt khuy đuợc
tráng thủy giống như những viên
ngọc trai mầu phấn hồng, mầu ngà.
Khuy aó đuợc đính vào aó bằng
chân khuy. Chân khuy aó đuợc tết
bằng hàng vải cùng mầu, hay
chính vải của aó, đuợc may lộn
nhỏ như thân cây tăm to, đó là
những chiếc chân khuy đẹp. Người
thợ may xếp hai chân khuy như
hai chiếc tăm nhỏ nằm song song
nhau. Khéo và may giỏi là sao
hai chân khuy aó may lộn cho
thật muớt, đều và nhỏ, mũi kim
đính khuy vào thân aó phải đều
như tắp, chiếc khuy đuợc lồng
vào chân khuy, bộ khuy đuợc chia
làm hai phần, phần một là phần
có hạt khuy aó, phần kia là phần
hạt khuy aó đuợc lồng vào, chân
của khuy aó đều giống nhau từ
dạng đến kích thước. Ngoài ra
khuy cũng được làm bằng vải tết
lại. khuy thường là bằng vải
cùng màu với vải may áo, nếu là
áo hoa, thì sẽ phải chọn một màu
nào nhiều nhất của áo để làm
khuy.

4.
Thế rồi có một cuộc cách mạng
lớn về y phục cuả thập niên 30,
do nhà vẽ kiểu mẫu y phục thời
trang : Cát Tường, đuợc mệnh
danh là Le Mur, Người sáng chế
những đổi mới cho áo dài, đã làm
một cuộc cách mạng lớn về y phục
phụ nữ ngày đó. Oâng Cát Tường
đã cải biến những chiếc aó dài,
gây sôi nổi trong xã hội thời
bấy giờ và bị giới bảo thủ chống
đối kịch lịệt, cho là kiểu áo
mới làm hư phụ nữ. Dĩ nhiên
những kiểu aó dài do ông sáng
chế ra đã đuợc một số phụ nữ
theo mới yêu thích. Những chiếc
aó đó có cái đẹp riêng của chúng.
Chiếc aó Le Mur cải biến là tay
aó không ráp theo lối thường
truớc đó, tức là tay aó ráp ở
khoảng giữa cánh tay, từ vai
xuống khuỷu. Lối cải biến của
nhà may Cát Tường thì tay aó
đuợc ráp từ vai như aó sơ mi hay
áo ngắn. Vai aó hơi bồng, Hò aó
đuợc thay đổi, cổ aó đuợc cắt
rộng xuống, không còn cổ như
kiểu áo Tàu nữa, mà cổ aó là
hình trái tim, hay cổ tròn, rồi
kết ren quanh cổ, tuỳ theo mầu
áo và mầu sắc.

Ngực aó thêu hay gắn ren. Khuy
aó cũng đuợc thay đổi, người ta
dùng những loại khuy tròn và dẹt,
hình những bông hoa v...v... như
khuy dùng cho các loại aó ngắn.
Những kiểu aó Le Mur này đã bị
những người bảo thủ cho là lố
lăng, dị hợm, và lên tiếng công
kích dữ dội trên baó chí, mặc dù
các kiểu aó đuợc những phụ nữ
cấp tiến hưởng ứng nhiều. Vào
giai đoạn 1930, xã hội VN cũng
có những thành phần chạy theo
Tây, học đòi theo ngoạị bang
những cái rởm, hành động lố lăng,
trơ trẽn của một lớp người
trưởng giả học làm sang, đã
khiến nhà văn Nguyễn Trọng
Phụng cho ra đời cuốn truyện
“Số Đỏ”û để chấm biếm những thói
hư tật xấu của một tầng lớp nào
đó trong xã hội đương thời.
Nhưng rồi phong trào cấp tiến
của aó dài đó cũng không tồn tại,
người ta lại trở về với lối áo
cổ xưa, nghiã là chiếc aó dài
đơn thuần giản dị hợp với cá
tính của phụ nữ Việt Nam hơn. Áo
vẫn may hơi rộng rộng. |